Chào mừng quý vị đến với Trường THPT Lương Sơn - Phú Thọ.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Nhàn
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Anh Hòa (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:23' 09-09-2009
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 115
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Anh Hòa (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:23' 09-09-2009
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 115
Số lượt thích:
0 người
:
CHÀO MỪNG CÁC THẦY CÔ VỀ DỰ GIỜ THAO GIẢNG GVTH: Nguyễn Thị Thu Hằng :
Nguyễn Bỉnh Khiêm(1491-1585) Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm I.Tiểu dẫn
1.Tác giả: Tiết 51: NHÀN - Nguyễn Bỉnh Khiêm
I. Tiểu dẫn 1. Tác giả - Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), quê Vĩnh Bảo - Hải Phòng. - Đỗ Trạng Nguyên năm 44 tuổi (1535) làm quan dưới triều Mạc. Ông nổi tiếng là người thẳng thắn cương trực (dâng sớ xin chém 18 tên lộng thần), cáo quan về quê ở ẩn lập Am Bạch Vân, dạy học. - Học trò của ông có nhiều người nổi tiếng (Nguyễn Dữ, Nguyễn Hàng, Phùng Khắc Khoan...) được đời suy tôn " Tuyết Giang Phu Tử" (Người thầy sông tuyết); Vua Mạc, Chúa Trịnh, Nguyễn có việc hệ trọng đều hỏi ý kiến ông. 2. Sự nghiệp văn chương: Tiết 51: NHÀN - Nguyễn Bỉnh Khiêm
2. Sự nghiệp văn chương - Ông để lại 700 bài thơ chữ Hán trong "Bạch Vân Am thi tập" và 170 bài thơ chữ Nôm trong "Bạch Vân quốc ngữ thi" - Nội dung thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm chất triết lý, giao huấn, ngợi ca chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, phê phán thói đời đen bạc trong xã hội. II. Đọc hiểu
: Tiết 51: NHÀN - Nguyễn Bỉnh Khiêm
NHÀN Nguyễn Bỉnh Khiêm Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao. Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. 1. Hai câu đề: Tiết 51: NHÀN - Nguyễn Bỉnh Khiêm
II. Đọc hiểu 1. Hai câu đề "Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào." - Mai, cuốc, cần câu - dụng cụ quen thuộc trong đời sống. - Ba chữ "một " cho thấy tất cả đã sẵn sàng chu đáo. => Cụ Trạng về với đời sống "tự cung tự cấp" là một sự ngông ngạo trước thói đời. Ngông ngạo mà không ngang, mà cứ thuần hậu, nguyên thuỷ. : Tiết 51: NHÀN - Nguyễn Bỉnh Khiêm
- "Thơ thẩn": gợi trạng thái thảnh thơi của con người vô tư trong lòng không chút bận tâm. - "dầu ai vui thú nào": không bận tâm với lối sống bon chen, chạy đua với danh lợi, khẳng định lối sống của mình đã chọn: Thanh thản. - Nhịp thơ 2/2/1/2: tâm trạng ung dung, thư thái. => Hai câu thơ thể hiện quan niệm về cuộc sống nhàn tản, sống không vất vả cực nhọc. 2. Hai câu thực: Tiết 51: NHÀN - Nguyễn Bỉnh Khiêm
2. Hai câu thực " Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao." - Sự đối lập "Ta dại" >< với "Người khôn" khẳng định phương châm sống của tác giả. - "Tìm nơi vắng vẻ": không lánh đời mà tìm nơi mình thích, sống thoải mái, an nhàn. - "Đến chốn lao xao": đến chốn quan trường, huyên náo, bon chen, giành giật. Nơi nguy hiểm khôn lường. => Quan niệm "khôn - dại" là cách nói ngược, giọng mỉa mai. + Dại chính là khôn, dại của bậc đại trí. + Khôn chính là dại. : Tiết 51: NHÀN - Nguyễn Bỉnh Khiêm
Làm người có dại mới nên khôn, Chớ dại ngây si chớ có khôn. Khôn được ích mình, đừng rẻ dại, Dại thì giữ phận, chớ tranh khôn. Khôn mà hiểm độc là khôn dại, Dại vốn hiền lành ấy dại khôn. Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại, Gặp thời, dại cũng hoá nên khôn. (Thơ Nôm - bài 94) => Tỉnh táo trong lựa chọn. Dại mà thực chất là khôn, còn khôn mà hoá dại. 3. Hai câu luận: Tiết 51: NHÀN - Nguyễn Bỉnh Khiêm
3. Hai câu luận "Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao." - Nói chuyện sinh hoạt hàng ngày: ăn, tắm đạm bạc nhưng thích thú mùa nào thức ấy, thức nào cũng sẵn. - Hai câu thơ nhắc tới bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông => Bức tranh tứ bình miêu tả cuộc sống quê mùa chất phát nhưng gần gũi. - Nhịp thơ 1/3/1/2 nhấn mạnh vào các mùa và đặc trưng của từng mùa. => Vẻ đẹp cuộc sống tự do tự tại, hoà hợp với thiên nhiên. 4. Hai câu kết: Tiết 51: NHÀN - Nguyễn Bỉnh Khiêm
4. Hai câu kết "Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao." - Mượn điển tích xưa song tính chất bi quan của điển tích mờ đi mà nổi lên ý nghĩa coi thường phú quý. Thêm một lần nữa, Nguyễn Bỉnh Khiêm khẳng định sự lựa chọn lối sống cho riêng mình. => Cuộc sống nhàn dật là kết quả của một nhân cách, một trí tuệ. Trí tuệ nhận ra công danh, của cải, quyền quý chỉ là giấc chiêm bao; Từ bỏ chốn lao xao đến nơi vắng vẻ đạm bạc mà thanh cao. : Tiết 51: NHÀN - Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tóm lại: - Bài thơ hiện lên chân dung Nguyễn Bỉnh Khiêm: Toả sáng một chân dung cuộc sống - một nhân cách cao đẹp. - Chữ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng dòng với chữ "Nhàn" của Chu Văn An, Nguyễn Trãi. Nhàn của bậc đại trí, nhàn thân mà không nhàn tâm. Khác với lối sống "Độc thiện kỳ thân" (Làm tốt cho riêng mình). III. Bài tập củng cố
1. Điền từ:
1. Điền từ vào chỗ trống.
Tên hiệu của Nguyễn Bỉnh Khiêm là ||Bạch Vân||.
Đặc sắc về ngôn ngữ biểu đạt của bài thơ là ||tự nhiên, mộc mạc mà ý vị||. III. Bài tập củng cố. 2. Lựa chọn đáp án đúng:
1. Bài thơ không đề cập đến phương diện nào của chân dung con người Nguyễn Bỉnh Khiêm?
Sự nghiệp
Cuộc sống
Nhân cách
Trí tuệ
2. Lựa chọn đáp án đúng . :
2. Quan niệm về khôn - dại trong hai câu thực có mối liên hệ với câu tục ngữ nào?
Gần mực thì đen, gần đền thì rạng.
Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác
Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài
xởi lởi trời cho, bo bo trời giữa lại
:
3. Dòng nào thể hiện quan niệm về khôn - dại của Nguyễn bỉnh Khiêm?
Thoát ra ngoài vòng ganh đua của thói tục
Sống tốt cho riêng mình
Tâm hồn an nhiên khoáng đạt
Cuốn hút bởi tiền tài, địa vị
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓
Các ý kiến mới nhất